Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae. (Nguồn: VGP)
Đến với Nhật Bản trong tâm thế mới
Hơn nửa thế kỷ qua, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản được vun đắp bằng tâm sức của nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước. Sự gắn bó ấy hiện diện trong những cây cầu, nhà máy, trường học, trong quan hệ giữa các địa phương và những gia đình có con em học tập, làm việc tại Nhật Bản.
Chuyến thăm lần này diễn ra khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển với những yêu cầu cao về tăng trưởng, chất lượng nền kinh tế và năng lực tự chủ. Sau Đại hội XIV, hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và nâng chất lượng nhân lực trở thành những nhiệm vụ gắn chặt với tương lai đất nước.
Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% mỗi năm trở lên trong giai đoạn 2026–2030 đòi hỏi chuyển biến mạnh về năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Để thực hiện mục tiêu ấy, nỗ lực trong nước cần đi cùng việc mở rộng hợp tác quốc tế, lựa chọn những đối tác có thể đồng hành lâu dài.
Chuyến thăm là cơ hội thúc đẩy hợp tác trong những lĩnh vực Nhật Bản có thế mạnh và Việt Nam đang cần, từ công nghệ, công nghiệp đến tài chính và quản trị. Việt Nam đến với Nhật Bản trong tâm thế của một đất nước quyết tâm chuyển mình, sẵn sàng cùng đối tác tìm kiếm cơ hội và chia sẻ lợi ích phát triển.
Những cuộc trao đổi cấp cao cũng là dịp để phía Nhật Bản hiểu rõ hơn định hướng và quyết tâm cải cách của Việt Nam. Sự rõ ràng về hướng đi, cùng khả năng thực hiện những cam kết, sẽ củng cố niềm tin để đối tác lựa chọn gắn bó.
Quyết sách mới mở rộng hợp tác
Những định hướng sau Đại hội XIV tạo thêm cơ sở để quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đi vào chiều sâu. Hoàn thiện thể chế giúp môi trường đầu tư thuận lợi hơn; phát triển khoa học, công nghệ mở ra nhu cầu nghiên cứu chung; nâng chất lượng nhân lực giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Trong tiến trình ấy, các cuộc trao đổi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với lãnh đạo Nhật Bản có ý nghĩa kết nối những ưu tiên của đất nước với chương trình hợp tác lâu dài. Quyết tâm đổi mới của Việt Nam cần được tiếp nối bằng những dự án phù hợp, có nguồn lực và trách nhiệm thực hiện rõ ràng.
Với doanh nghiệp, niềm tin được bồi đắp từ những điều cụ thể: Thủ tục được giải quyết đúng hẹn, quy định được áp dụng nhất quán, khó khăn được lắng nghe và tháo gỡ. Những chuyển biến ấy giúp các quyết sách đến gần hơn với thực tế, đồng thời tạo điều kiện đón nhận những cơ hội mới từ chuyến thăm.

Tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam trong 7 tháng năm 2026 đạt trên 1,25 tỷ USD. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Một hướng hợp tác đáng kỳ vọng là gắn đầu tư với phát triển công nghệ và đào tạo nhân lực. Giá trị của một dự án còn nằm ở đội ngũ kỹ sư trưởng thành, nhà cung ứng trong nước được nâng cấp và khả năng phát triển sản phẩm được hình thành.
Với bán dẫn, trí tuệ nhân tạo hay tự động hóa, hai bên có thể lựa chọn những khâu phù hợp để triển khai. Sự liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp sẽ giúp người học có nơi thực hành, người nghiên cứu có bài toán thực tế, doanh nghiệp có nhân lực đáp ứng yêu cầu.
Khi doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tiếp nhận những đơn hàng phức tạp hơn, phía Nhật Bản cũng có thêm đối tác tin cậy. Sự trưởng thành của doanh nghiệp trong nước vì thế mang lại lợi ích cho cả hai bên, tạo nền tảng để hợp tác công nghệ bền vững hơn.
Gắn kết kinh tế và lợi ích lâu dài
Tại cuộc gặp cấp cao tháng 5/2026, lãnh đạo hai nước đã nhất trí thúc đẩy hợp tác về an ninh kinh tế, trong đó có năng lượng, khoáng sản quan trọng, trí tuệ nhân tạo và bán dẫn. Đây là những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến khả năng duy trì sản xuất và ứng phó với biến động của mỗi nền kinh tế.
Việt Nam cần nguồn điện ổn định, hạ tầng đồng bộ và nguồn cung nguyên liệu đáp ứng nhu cầu tăng trưởng. Nhật Bản có lợi ích trong việc mở rộng mạng lưới đối tác đáng tin cậy. Sự gặp gỡ ấy mở thêm không gian hợp tác, nhất là khi các dự án giúp nâng năng lực tự chủ của mỗi bên.
Trong chuyển đổi năng lượng, lựa chọn công nghệ cần gắn với chi phí, hiệu quả và điều kiện thực tế. Với khoáng sản, lợi ích lâu dài phải đi cùng năng lực chế biến và bảo vệ môi trường. Hợp tác hạ tầng cần chú trọng đào tạo, vận hành và bảo dưỡng để công trình phục vụ tốt trong nhiều năm.
Chuyến thăm được kỳ vọng tạo thêm động lực xác định các dự án ưu tiên và xử lý những vướng mắc còn tồn đọng. Tháo gỡ được một khó khăn kéo dài cũng là cách mở đường cho hợp tác mới, giúp doanh nghiệp yên tâm xây dựng kế hoạch lâu dài.
Văn hóa và con người bồi đắp tình hữu nghị
Chiều sâu quan hệ Việt Nam - Nhật Bản còn được tạo nên từ những gắn bó giữa con người với con người. Mỗi người Việt Nam học tập, làm việc và lập nghiệp tại Nhật Bản đều có thể góp phần vun đắp sự hiểu biết bằng công việc và cách ứng xử hằng ngày.
Hợp tác nhân lực trong thời gian tới cần quan tâm hơn đến cơ hội phát triển nghề nghiệp. Người lao động cần được chuẩn bị tốt về kỹ năng, ngôn ngữ, hiểu biết pháp luật và được bảo đảm quyền lợi. Du học sinh, kỹ sư, nhà nghiên cứu cần có điều kiện phát huy chuyên môn và duy trì kết nối với quê hương.
Những người trở về mang theo kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng quản lý và sự am hiểu đối tác. Nếu được kết nối đúng với nhu cầu của doanh nghiệp Việt Nam, họ sẽ tiếp tục đóng góp cho hợp tác hai nước từ chính những công việc trong nước.
Ở cấp địa phương, một chương trình đào tạo, dự án nông nghiệp hay hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ có thể tạo ra những thay đổi thiết thực. Sự kiên trì theo đuổi những công việc ấy giúp các định hướng cấp cao đi vào đời sống, để người dân cảm nhận rõ lợi ích của tình hữu nghị.

Chương trình giao lưu văn hóa - thương mại Việt Nam - Nhật Bản năm 2026 tại Cần Thơ diễn ra từ ngày 11-13/9. (Nguồn: VOV)
Văn hóa góp phần nuôi dưỡng sự gần gũi ấy. Cuộc yết kiến Nhà vua và Hoàng hậu Nhật Bản của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân Ngô Phương Ly trong chuyến thăm là dịp tiếp nối giao lưu, thể hiện sự trân trọng dành cho quan hệ hai nước. Sự hiện diện của Phu nhân góp thêm nét gần gũi, ấm áp cho các hoạt động đối ngoại.
Từ sự nâng niu những giá trị văn hóa của nhau, tình hữu nghị lặng lẽ bén rễ trong lòng người, được bồi đắp qua từng cuộc gặp chân thành. Dẫu cách xa về địa lý, hai dân tộc vẫn tìm thấy ở nhau sự đồng điệu.
Tin cậy đến hợp tác sâu rộng
Những chuyển động của Việt Nam sau Đại hội XIV và nhu cầu hợp tác của hai nước tạo cơ sở để kỳ vọng vào chuyến thăm. Trước hết là củng cố tin cậy, làm rõ hướng đi lâu dài của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện; từ đó thúc đẩy những chương trình phù hợp về công nghệ, nhân lực, năng lượng và hạ tầng.
Điều được chờ đợi là những thỏa thuận có thể triển khai, với nguồn lực và tiến độ cụ thể. Kết quả chuyến thăm sẽ tiếp tục được thể hiện qua công việc sau đó, khi các cơ quan, doanh nghiệp và địa phương cùng thực hiện những cam kết. Đó cũng là mong đợi của những người đã dành nhiều tâm sức cho tình hữu nghị giữa Việt Nam và Nhật Bản.
Trên bình diện khu vực, sự gắn bó Việt Nam - Nhật Bản còn góp phần giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, tôn trọng luật pháp quốc tế và lợi ích chính đáng của nhau. Đó là điều kiện để mỗi nước yên tâm phát triển và đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng quốc tế.
Hơn nửa thế kỷ vun đắp đã làm nên một quan hệ bền chặt trong tin cậy, sâu sắc trong tình cảm. Chuyến thăm lần này thể hiện sự trân trọng dành cho nhau và quyết tâm đưa quan hệ hai nước tiến xa hơn. Với Việt Nam đang mạnh mẽ chuyển mình và Nhật Bản là người bạn, đối tác tin cậy, chuyến thăm được kỳ vọng mở ra chặng đường hợp tác giàu triển vọng, để những thành quả hôm nay tiếp tục được gìn giữ, phát huy cho các thế hệ mai sau.
Theo https://baoquocte.vn/viet-nam-nhat-ban-kien-tao-dong-luc-nang-tam-quan-he-hop-tac-464369.html


