Trước hết là nguy cơ đứt gãy truyền thống văn hóa. Lực lượng lao động vốn là chủ thể kế thừa và thực hành văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, khi rời khỏi làng quê để đi làm ăn xa, họ ít có điều kiện tham gia các hoạt động văn hóa truyền thống như lễ hội – nơi hội tụ nhiều yếu tố văn hóa của cộng đồng như lễ nghi, tín ngưỡng, ngôn ngữ, văn nghệ dân gian, trang phục, ẩm thực… Vì vậy, việc tiếp nhận và thực hành các giá trị văn hóa truyền thống không còn được duy trì thường xuyên.
Thứ hai là nguy cơ mai một văn hóa truyền thống. Văn hóa truyền thống chủ yếu được truyền lại thông qua hình thức truyền khẩu và thực hành từ thế hệ cao niên sang thế hệ trẻ. Khi lực lượng lao động rời khỏi làng quê, nhiều nơi chỉ còn lại các thế hệ cao niên. Nếu không có sự truyền dạy kịp thời, khi các thế hệ này qua đời thì nguy cơ mai một các giá trị văn hóa truyền thống là điều khó tránh khỏi.
Nghệ nhân dân gian truyền dạy hát then – đàn tính cho thế hệ trẻ nhằm bảo tồn di sản văn hóa truyền thống.
Thứ ba là nguy cơ thay đổi hệ giá trị văn hóa và lối sống. Khi người lao động làm việc ở những môi trường mới, họ tiếp xúc với nhiều giá trị văn hóa và lối sống khác so với nơi sinh ra và lớn lên. Khi trở về quê hương, những yếu tố văn hóa mới này hòa trộn với không gian văn hóa truyền thống, từ đó có thể dẫn đến sự biến đổi trong hệ giá trị và nếp sống của cộng đồng.
Tuy nhiên, ở góc độ khác, di cư lao động cũng mang lại những tác động tích cực đối với đời sống văn hóa truyền thống ở làng quê.
Trước hết, di cư lao động góp phần lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống. Những người lao động sinh ra và lớn lên ở làng quê đã được tiếp thu các giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình trưởng thành. Khi đi làm ăn xa, họ mang theo những giá trị văn hóa đó và thực hành tại nơi sinh sống, làm việc mới, qua đó góp phần lan tỏa bản sắc văn hóa quê hương.
Thứ hai, quá trình di cư cũng tăng cường ý thức về bản sắc và trách nhiệm gìn giữ văn hóa quê hương. Trong môi trường sống mới, người lao động thường tìm đến nhau thông qua các yếu tố văn hóa chung, từ đó hình thành các cộng đồng đồng hương mang đậm bản sắc văn hóa quê nhà. Chính điều này góp phần nuôi dưỡng tình yêu quê hương, khơi dậy niềm tự hào và ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.
Thứ ba, trong quá trình làm việc ở nơi mới, người lao động cũng được tiếp cận với nhiều giá trị văn hóa tiến bộ, hiện đại. Khi trở về địa phương, họ có thể vận dụng những yếu tố tích cực này vào đời sống cộng đồng, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa và từng bước loại bỏ những hủ tục, tập quán lạc hậu.
Có thể nói, di cư lao động là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Vấn đề đặt ra không phải là ngăn cản quá trình di cư, mà là tìm cách duy trì sự kết nối giữa những người rời quê với đời sống văn hóa của cộng đồng, nhằm bảo đảm bản sắc văn hóa địa phương không bị đứt gãy.
Đối với Tuyên Quang, một địa phương đa dân tộc với nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, lực lượng lao động đi làm ăn xa cũng khá lớn. Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực.

Phát triển du lịch cộng đồng góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc ở Tuyên Quang.
Trước hết, tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tiến hành kiểm kê, nhận diện các giá trị văn hóa truyền thống, lập hồ sơ di sản, số hóa di sản, phục dựng và bảo tồn nhiều loại hình văn hóa dân tộc, qua đó góp phần lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa trong đời sống cộng đồng.
Thứ hai, tỉnh chú trọng giáo dục và truyền dạy văn hóa cho thế hệ trẻ, tạo điều kiện để các chủ thể văn hóa được sống, tìm hiểu và kế thừa những giá trị văn hóa dân tộc với những giá trị cốt lõi cùng niềm tự hào về bản sắc quê hương. Điều này được thể hiện qua việc đưa nội dung văn hóa truyền thống vào trường học, tổ chức các hoạt động trải nghiệm và thực hành văn hóa dân tộc.
Thứ ba, tỉnh tập trung nguồn lực và ban hành nhiều chính sách đặc thù nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Trong những năm qua, tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề, dự án và kế hoạch về bảo tồn văn hóa; đồng thời tranh thủ nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để đầu tư cho công tác bảo tồn di sản. Bên cạnh đó, tỉnh cũng ban hành chính sách hỗ trợ các nghệ nhân dân gian nhằm phát huy vai trò của chủ thể văn hóa trong việc truyền dạy các giá trị văn hóa truyền thống.
Thứ tư, tỉnh định hướng biến văn hóa thành nguồn lực cho phát triển kinh tế du lịch, tạo sinh kế và thu nhập cho người dân. Việc khai thác giá trị văn hóa trong phát triển du lịch vừa góp phần tôn vinh bản sắc văn hóa, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, giảm nghèo và tạo thêm việc làm cho lao động địa phương.
Thứ năm, tỉnh thường xuyên tổ chức các hoạt động tôn vinh và quảng bá văn hóa, như lễ hội truyền thống, liên hoan dân ca, dân vũ, trình diễn nhạc cụ dân tộc… Đồng thời tham gia các chương trình quảng bá, bình chọn điểm đến văn hóa trong nước và quốc tế, qua đó củng cố niềm tin và lòng tự hào về bản sắc văn hóa dân tộc.
Thứ sáu, tỉnh cũng khôi phục các làng nghề truyền thống và phát triển một số ngành công nghiệp văn hóa, nhằm chuyển hóa giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc.
Đó là những giải pháp cụ thể để Tuyên Quang thực hiện mục tiêu vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, trong thời gian tới, cần tiếp tục tăng cường cơ chế phối hợp với các doanh nghiệp, cơ sở tuyển dụng lao động nhằm quan tâm hơn đến đời sống văn hóa của người lao động xa quê. Có thể nghiên cứu hình thành các không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng, tổ chức các chương trình giao lưu và trải nghiệm văn hóa tại khu, cụm công nghiệp, tạo điều kiện để người lao động duy trì và thực hành các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình.
Nguyễn Hoài


