
Chiến sĩ Hải quân Việt Nam thực hiện nhiệm vụ trên đảo Đá Lát thuộc quần đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa). Ảnh: TTXVN
Khoa học mở đường cho đối thoại và xây dựng lòng tin
Trong bức tranh địa chính trị hàng hải đương đại, việc duy trì một không gian biển hòa bình, ổn định và phát triển bền vững đòi hỏi các quốc gia phải không ngừng tìm kiếm những phương thức tiếp cận thực chất. Thay vì chỉ tập trung vào các vấn đề tranh chấp phức tạp, việc khởi tạo đối thoại từ các lĩnh vực mang lại lợi ích chung như bảo tồn môi trường biển, quản lý nguồn lợi thủy sản hay ứng phó với biến đổi khí hậu đang chứng minh giá trị nền tảng. Khi tri thức khoa học được kết nối chặt chẽ với ngoại giao, đó sẽ là tiền đề vững chắc giúp các quốc gia ven Biển Đông thu hẹp bất đồng, củng cố sự tin cậy lẫn nhau và kiến tạo môi trường hợp tác lâu dài.
Nhìn nhận về tiềm năng to lớn này, chị Alayna Yap, nghiên cứu sinh chương trình thạc sĩ triết học ngành Quan hệ quốc tế tại Đại học Oxford (Anh), cho rằng những dự án phối hợp kỹ thuật liên quan đến việc giám sát chất lượng nguồn nước, bảo vệ tài nguyên sinh vật và quản trị vùng duyên hải hoàn toàn có thể trở thành nền móng vững chắc cho sự phối hợp sâu rộng hơn trên các lĩnh vực then chốt khác, bao gồm cả quan hệ chính trị song phương và đa phương. Ưu thế vượt trội của ngoại giao khoa học chính là năng lực thiết lập mạng lưới gắn kết tự nhiên giữa giới chuyên gia nghiên cứu với các nhà ngoại giao và các nhà hoạch định chính sách, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để các bên cùng tích lũy tri thức, minh bạch hóa dữ liệu và thực hiện các đề tài nghiên cứu chung.
Từ thực tiễn nghiên cứu thực địa, chị Alayna Yap phân tích rằng, nếu từng quốc gia chỉ đơn thuần dựa vào nguồn lực khoa học nội địa kết hợp cùng lực lượng cảnh sát biển trong nước thì bức tranh dữ liệu thu thập được sẽ luôn tồn tại những khoảng trống, rất khó phản ánh toàn diện hiện trạng biến đổi môi trường trên toàn bộ vùng biển khu vực.
Thực tế đó đặt ra đòi hỏi cấp thiết đối với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), cũng như quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc trong việc đẩy mạnh các sáng kiến nghiên cứu liên ngành và chia sẻ thông tin dùng chung. Cơ chế phối hợp đa phương này không chỉ giúp bổ sung nguồn dữ liệu khoa học tin cậy, mở rộng phạm vi quan sát hải dương học mà còn nâng cao tính minh bạch, hạn chế tối đa nguy cơ hiểu lầm chiến lược. Hợp tác khoa học phải được xem là một cấu phần không thể thiếu trong các tiến trình đối thoại khu vực.
Trong bối cảnh suy thoái hệ sinh thái biển và biến đổi khí hậu mang tính chất xuyên biên giới rõ rệt, việc cùng nhau sẻ chia tri thức và kinh nghiệm quản lý sẽ giúp các quốc gia nâng cao năng lực thích ứng, tạo dựng điểm tựa vững chãi cho một trật tự hàng hải ổn định và phồn vinh. Bên cạnh giải pháp kỹ thuật, việc tháo gỡ rào cản tài chính và đề cao trách nhiệm liên thế hệ cũng là yếu tố cốt lõi để các sáng kiến bảo vệ biển đi vào thực chất.
Tiến sĩ Neeraj Singh Manhas, chuyên gia về các vấn đề nguồn nước và lưu vực sông xuyên biên giới tại Nam Á, công tác tại Thủ đô New Delhi (Ấn Độ), nhấn mạnh yêu cầu phải củng cố mạnh mẽ sự phối hợp quốc tế trong công tác bảo vệ môi trường biển. Các nước phát triển cần thể hiện trách nhiệm cao hơn thông qua việc hỗ trợ tài chính, công nghệ cho các quốc gia đang phát triển trong nỗ lực giảm phát thải và phục hồi các rạn san hô, hệ sinh thái ven bờ.
Đồng thời, sự kiên định trong việc thực thi các cam kết chính sách qua nhiều nhiệm kỳ của các chính phủ là điều kiện tiên quyết để bảo đảm các mục tiêu bảo tồn biển dài hạn không bị gián đoạn trước các biến động chính trị. Tiến sĩ Neeraj Singh Manhas cũng đánh giá cao vai trò chủ động dẫn dắt của ASEAN, khẳng định các nước thành viên hoàn toàn có năng lực và vị thế để khởi xướng các sáng kiến bảo tồn đa dạng sinh học, đưa hợp tác hàng hải thành một trụ cột gắn kết bền chặt trong khu vực.

Chiến sĩ Hải quân Việt Nam thực hiện nhiệm vụ trên đảo Đá Lát thuộc quần đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa). Ảnh: TTXVN
Khoa học mở đường cho đối thoại và xây dựng lòng tin
Trong bức tranh địa chính trị hàng hải đương đại, việc duy trì một không gian biển hòa bình, ổn định và phát triển bền vững đòi hỏi các quốc gia phải không ngừng tìm kiếm những phương thức tiếp cận thực chất. Thay vì chỉ tập trung vào các vấn đề tranh chấp phức tạp, việc khởi tạo đối thoại từ các lĩnh vực mang lại lợi ích chung như bảo tồn môi trường biển, quản lý nguồn lợi thủy sản hay ứng phó với biến đổi khí hậu đang chứng minh giá trị nền tảng. Khi tri thức khoa học được kết nối chặt chẽ với ngoại giao, đó sẽ là tiền đề vững chắc giúp các quốc gia ven Biển Đông thu hẹp bất đồng, củng cố sự tin cậy lẫn nhau và kiến tạo môi trường hợp tác lâu dài.
Nhìn nhận về tiềm năng to lớn này, chị Alayna Yap, nghiên cứu sinh chương trình thạc sĩ triết học ngành Quan hệ quốc tế tại Đại học Oxford (Anh), cho rằng những dự án phối hợp kỹ thuật liên quan đến việc giám sát chất lượng nguồn nước, bảo vệ tài nguyên sinh vật và quản trị vùng duyên hải hoàn toàn có thể trở thành nền móng vững chắc cho sự phối hợp sâu rộng hơn trên các lĩnh vực then chốt khác, bao gồm cả quan hệ chính trị song phương và đa phương. Ưu thế vượt trội của ngoại giao khoa học chính là năng lực thiết lập mạng lưới gắn kết tự nhiên giữa giới chuyên gia nghiên cứu với các nhà ngoại giao và các nhà hoạch định chính sách, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để các bên cùng tích lũy tri thức, minh bạch hóa dữ liệu và thực hiện các đề tài nghiên cứu chung.
Từ thực tiễn nghiên cứu thực địa, chị Alayna Yap phân tích rằng, nếu từng quốc gia chỉ đơn thuần dựa vào nguồn lực khoa học nội địa kết hợp cùng lực lượng cảnh sát biển trong nước thì bức tranh dữ liệu thu thập được sẽ luôn tồn tại những khoảng trống, rất khó phản ánh toàn diện hiện trạng biến đổi môi trường trên toàn bộ vùng biển khu vực.
Thực tế đó đặt ra đòi hỏi cấp thiết đối với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), cũng như quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc trong việc đẩy mạnh các sáng kiến nghiên cứu liên ngành và chia sẻ thông tin dùng chung. Cơ chế phối hợp đa phương này không chỉ giúp bổ sung nguồn dữ liệu khoa học tin cậy, mở rộng phạm vi quan sát hải dương học mà còn nâng cao tính minh bạch, hạn chế tối đa nguy cơ hiểu lầm chiến lược. Hợp tác khoa học phải được xem là một cấu phần không thể thiếu trong các tiến trình đối thoại khu vực.
Trong bối cảnh suy thoái hệ sinh thái biển và biến đổi khí hậu mang tính chất xuyên biên giới rõ rệt, việc cùng nhau sẻ chia tri thức và kinh nghiệm quản lý sẽ giúp các quốc gia nâng cao năng lực thích ứng, tạo dựng điểm tựa vững chãi cho một trật tự hàng hải ổn định và phồn vinh. Bên cạnh giải pháp kỹ thuật, việc tháo gỡ rào cản tài chính và đề cao trách nhiệm liên thế hệ cũng là yếu tố cốt lõi để các sáng kiến bảo vệ biển đi vào thực chất.
Tiến sĩ Neeraj Singh Manhas, chuyên gia về các vấn đề nguồn nước và lưu vực sông xuyên biên giới tại Nam Á, công tác tại Thủ đô New Delhi (Ấn Độ), nhấn mạnh yêu cầu phải củng cố mạnh mẽ sự phối hợp quốc tế trong công tác bảo vệ môi trường biển. Các nước phát triển cần thể hiện trách nhiệm cao hơn thông qua việc hỗ trợ tài chính, công nghệ cho các quốc gia đang phát triển trong nỗ lực giảm phát thải và phục hồi các rạn san hô, hệ sinh thái ven bờ.
Đồng thời, sự kiên định trong việc thực thi các cam kết chính sách qua nhiều nhiệm kỳ của các chính phủ là điều kiện tiên quyết để bảo đảm các mục tiêu bảo tồn biển dài hạn không bị gián đoạn trước các biến động chính trị. Tiến sĩ Neeraj Singh Manhas cũng đánh giá cao vai trò chủ động dẫn dắt của ASEAN, khẳng định các nước thành viên hoàn toàn có năng lực và vị thế để khởi xướng các sáng kiến bảo tồn đa dạng sinh học, đưa hợp tác hàng hải thành một trụ cột gắn kết bền chặt trong khu vực.
Theo https://www.bienphong.com.vn/the-he-tre-va-su-menh-hop-tac-vi-an-ninh-bien-post509217.html


