Không thể để thuật toán đứng ngoài trách nhiệm xã hội
Không gian mạng được tạo nên bởi hàng tỷ lựa chọn của người dùng, nhưng những gì chúng ta nhìn thấy lại không hoàn toàn do chúng ta tự chọn. Thuật toán quyết định nội dung nào xuất hiện trước, nội dung nào được đề xuất, nội dung nào có cơ hội lan truyền. Các nền tảng số vì thế không chỉ là “đường ống” truyền dẫn trung tính; họ sở hữu quyền lực rất lớn trong việc sắp xếp sự chú ý của xã hội. Khi mô hình kinh doanh dựa trên thời gian người dùng ở lại nền tảng, những nội dung gây sốc, xung đột, giận dữ hoặc sợ hãi dễ được ưu tiên vì giữ chân người xem lâu hơn. Đây là điểm mà quản trị không gian mạng hiện đại phải nhìn thẳng: Nếu thuật toán tạo ra lợi nhuận bằng sự chú ý thì chủ thể vận hành thuật toán phải có trách nhiệm đối với các rủi ro xã hội mà cơ chế phân phối ấy tạo ra.
Hành lang pháp lý của Việt Nam những năm gần đây đã tiến thêm nhiều bước. Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10-12-2025 và có hiệu lực từ ngày 1-7-2026, tạo khuôn khổ pháp lý mới cho bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng. Trước đó, Nghị định số 147/2024/NĐ-CP đã quy định trách nhiệm đối với tổ chức, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài cung cấp dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, trong đó có cơ chế yêu cầu chặn, gỡ nội dung vi phạm, xử lý tài khoản thường xuyên vi phạm và tăng cường xác thực người dùng. Những quy định này thể hiện một nguyên tắc quan trọng: Hoạt động xuyên biên giới không đồng nghĩa với đứng ngoài pháp luật của quốc gia nơi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và tạo ra doanh thu.
Tuy nhiên, trong bối cảnh AI và hệ thống phân phối tự động phát triển nhanh, pháp luật cần tiếp tục chuyển từ xử lý từng bài viết sang quản trị rủi ro hệ thống. Một nội dung sai nếu chỉ nằm ở một tài khoản nhỏ có mức độ tác động khác hoàn toàn với việc cùng nội dung ấy được thuật toán đề xuất tới hàng triệu người. Vì vậy, cần từng bước đặt ra nghĩa vụ đánh giá rủi ro đối với các nền tảng lớn, yêu cầu minh bạch hơn về nguyên tắc đề xuất, quảng cáo, mạng lưới tài khoản giả, biện pháp bảo vệ trẻ em và cơ chế xử lý nội dung do AI tạo ra có nguy cơ gây nhầm lẫn. Cùng với nghĩa vụ gỡ bỏ, cũng cần có cơ chế khiếu nại và giải trình để tránh tình trạng xử lý máy móc, xâm phạm quyền biểu đạt hợp pháp hoặc làm biến mất những phản biện chính đáng.
Ảnh minh họa: Báo Tin tức
Tôi cho rằng mục tiêu của quản lý không phải là biến không gian mạng thành một môi trường bị kiểm soát cứng nhắc, mà là biến nó thành một không gian có luật lệ, có trách nhiệm và có khả năng bảo vệ quyền con người, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng. Tháng 10-2025, tại sự kiện liên quan đến Lễ mở ký Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng, Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) nhấn mạnh mong muốn đưa không gian mạng trở thành “không gian của luật pháp, của sự hợp tác và phát triển”. Đó là một cách tiếp cận rất đáng chú ý: An ninh mạng không đối lập với phát triển; kỷ cương không đối lập với sáng tạo. Một môi trường số an toàn, dự đoán được và công bằng chính là điều kiện để công nghệ phục vụ tốt hơn cho con người.
Cũng từ góc nhìn đó, chế tài đối với các nền tảng phải đủ sức buộc họ tính đến “chi phí xã hội” của thuật toán. Không thể để lợi ích từ quảng cáo được tư nhân hóa trong khi hậu quả của tin giả, lừa đảo, thù hận, cực đoan hóa hay xâm hại trẻ em lại do cộng đồng gánh chịu. Nhưng chế tài chỉ là một phần. Cần phát triển năng lực công nghệ trong nước, hạ tầng dữ liệu có chủ quyền, mạng lưới xác thực nội dung, các doanh nghiệp công nghệ đủ mạnh để không phụ thuộc hoàn toàn vào công cụ bên ngoài. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác định rất rõ yêu cầu tự chủ công nghệ, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và phát triển các nền tảng số an toàn. Đó là nền tảng để chúng ta không chỉ quản lý người khác trên không gian số, mà còn từng bước làm chủ chính không gian số của mình.
Báo chí phải là nơi xã hội tìm đến khi cần xác nhận sự thật
Nếu nền tảng quyết định phần lớn đường đi của thông tin, thì báo chí cách mạng phải giữ vai trò định chuẩn cho sự thật. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong bối cảnh báo chí không còn độc quyền phát tin và phải cạnh tranh từng phút với mạng xã hội. Trong bài viết “Báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số” công bố ngày 18-6-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra rằng, trong môi trường thông tin quá nhiều, xã hội càng cần những địa chỉ đáng tin cậy để xác định điều gì đúng, điều gì còn phải kiểm chứng, điều gì chỉ là cảm xúc đám đông hoặc sự sắp đặt có chủ ý. Đồng chí nhấn mạnh báo chí phải là nơi nhân dân tìm đến khi cần sự xác nhận đáng tin cậy, chứ không phải nơi chạy theo xu hướng.
Đây là một định hướng rất quan trọng đối với cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng. Báo chí không thể giành lại thế chủ động nếu chỉ chạy theo những chủ đề đang “nóng” trên mạng xã hội, rồi biến nội dung chưa kiểm chứng của các tài khoản ẩn danh thành nguồn của mình. Khi tòa soạn để bảng xu hướng của nền tảng quyết định chương trình nghị sự, thuật toán đã trở thành “tổng biên tập vô hình”. Báo chí cần lắng nghe mạng xã hội để biết công chúng đang quan tâm điều gì, nhưng dữ liệu ấy chỉ nên là radar, không phải tay lái. Lựa chọn vấn đề phải dựa trên lợi ích công chúng, mức độ ảnh hưởng xã hội, tính xác thực và trách nhiệm nghề nghiệp.
Ngày 16-6-2026, gặp mặt các nhà báo tiêu biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu báo chí “bám sát thực tiễn, tôn trọng sự thật, lấy lợi ích của nhân dân làm điểm xuất phát”; đồng thời nhấn mạnh đấu tranh với thông tin sai trái không thể chỉ bằng khẩu hiệu mà phải bằng chứng cứ, lập luận, ngôn ngữ chuẩn mực, thái độ bình tĩnh và uy tín nghề nghiệp. Tinh thần này rất phù hợp với bản chất của báo chí cách mạng: Tính chiến đấu càng cao càng phải dựa trên sự thật; bản lĩnh chính trị càng vững càng phải thể hiện bằng khả năng thuyết phục, chứ không phải bằng cách quy chụp hay né tránh vấn đề.
Theo tôi, báo chí muốn thắng trong cuộc cạnh tranh niềm tin cần làm tốt ít nhất bốn việc. Thứ nhất, xây dựng năng lực kiểm chứng số chuyên nghiệp, có thể xác minh hình ảnh, video, âm thanh, dữ liệu và nguồn tin mở trong thời gian ngắn. Thứ hai, phát triển báo chí dữ liệu, bởi trong một môi trường đầy cảm xúc, dữ liệu là cách đưa cuộc tranh luận trở lại với sự thật có thể kiểm tra. Thứ ba, đổi mới mạnh cách kể chuyện trên nhiều nền tảng, để thông tin chính thống không chỉ đúng mà còn dễ hiểu, hấp dẫn và phù hợp với thói quen tiếp nhận của từng nhóm công chúng. Thứ tư, xây dựng quan hệ trực tiếp với độc giả thông qua ứng dụng, bản tin, cộng đồng, hệ thống thành viên và các kênh riêng, qua đó giảm mức độ phụ thuộc vào thuật toán xuyên biên giới.
“Lấy cái đẹp dẹp cái xấu” trong báo chí cũng cần được hiểu đúng. Cái đẹp không chỉ là những câu chuyện thành tích, gương người tốt, việc tốt, mà trước hết là sự thật, công bằng, trách nhiệm và tinh thần nhân văn. Một bài điều tra làm rõ tiêu cực, một tuyến bài phản ánh bức xúc của người dân, một sản phẩm giải thích chính sách có dữ liệu, một bài viết bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung đều góp phần làm sạch môi trường thông tin. Báo chí chính thống sẽ mất sức sống nếu chỉ nói điều thuận tai mà né tránh những vấn đề xã hội đang cần câu trả lời. Ngược lại, khi báo chí nhìn thẳng vào bất cập, phân tích đúng nguyên nhân, chỉ ra giải pháp và theo đuổi câu chuyện đến cùng, đó cũng là một cách rất quan trọng để củng cố niềm tin vào hệ thống.
Cần đặc biệt coi trọng khả năng phối hợp giữa cơ quan nhà nước và báo chí. Không thể yêu cầu báo chí chống tin giả hiệu quả nếu phóng viên không được tiếp cận thông tin chính thức kịp thời. Cơ quan công quyền phải xem báo chí là đối tác trong truyền thông chính sách, chủ động cung cấp dữ liệu, giải thích những vấn đề khó, phản hồi nhanh khi xuất hiện thông tin gây hoang mang. Tòa soạn, ngược lại, phải sử dụng thông tin ấy với sự độc lập nghề nghiệp, kiểm chứng và trách nhiệm trước công chúng. Mối quan hệ tốt không phải là báo chí chỉ đưa lại thông cáo; mối quan hệ tốt là cùng làm cho xã hội hiểu đúng vấn đề.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm còn nhấn mạnh trong bài viết về báo chí số rằng làm chủ không gian số không thể chỉ bằng khẩu hiệu, mà phải bắt đầu từ từng tòa soạn, từng quy trình kiểm chứng, từng kho dữ liệu, từng sản phẩm báo chí, từng lớp đào tạo và từng ứng xử của nhà báo trước công chúng. Tôi rất đồng tình với tinh thần ấy. Muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số, chúng ta cần những lực lượng chuyên trách mạnh, nhưng cũng cần những tòa soạn mạnh; cần công nghệ, nhưng cũng cần đạo đức nghề nghiệp; cần tốc độ, nhưng không được hy sinh độ chính xác. Khi báo chí giữ được vị thế là thiết chế của sự thật và là diễn đàn tin cậy của nhân dân, chúng ta không chỉ phản bác được một tin giả, mà còn làm giảm nhu cầu xã hội đối với tin giả.
Từ “gỡ bỏ” đến kiến tạo một hệ sinh thái thông tin lành mạnh
Thực tế cho thấy một chiến lược chỉ tập trung vào “gỡ bỏ” sẽ không bao giờ đủ. Mỗi ngày có hàng triệu nội dung mới được tạo ra, còn AI đang làm tốc độ ấy tăng theo cấp số nhân. Không cơ quan nào có thể kiểm duyệt trước toàn bộ dòng chảy thông tin mà không tạo ra những hệ lụy lớn đối với quyền tự do và sức sáng tạo của xã hội. Vì vậy, trọng tâm phải là thiết kế một hệ sinh thái trong đó thông tin có trách nhiệm có lợi thế hơn, tin giả bị giảm khả năng khuếch tán, người dùng có đủ kỹ năng nhận biết, còn những chủ thể gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm.
Hệ sinh thái ấy cần một mạng lưới kiểm chứng thông tin ở quy mô quốc gia, kết nối cơ quan quản lý, báo chí chủ lực, cơ sở nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia công nghệ, doanh nghiệp nền tảng và cộng đồng. Khi xuất hiện một deepfake giả mạo lãnh đạo, một chiến dịch tung tin về chính sách hoặc một mạng lưới tài khoản đang kích động tâm lý xã hội, mạng lưới phải có thể nhanh chóng xác minh, công bố bằng chứng, đưa cảnh báo tới nền tảng và người dùng. Càng minh bạch về phương pháp kiểm chứng, công chúng càng dễ tin. Một nhãn “tin giả” không có bằng chứng nhiều khi không thuyết phục bằng một phân tích ngắn nhưng chỉ rõ hình ảnh đã bị sửa ở đâu, dữ kiện gốc là gì và nguồn xác thực nằm ở đâu.
Cùng với đó, phải tạo không gian cho nội dung tích cực, tri thức và văn hóa có chất lượng. Một xã hội không thể chỉ sống bằng phản bác. Nếu dòng chảy thông tin chính thống khô cứng, chậm và xa đời sống, những khoảng trống cảm xúc sẽ tiếp tục bị nội dung cực đoan lấp đầy. Báo chí, văn nghệ sĩ, nhà giáo, nhà khoa học, người có ảnh hưởng và doanh nghiệp sáng tạo cần được khuyến khích cùng tham gia xây dựng những sản phẩm kể câu chuyện Việt Nam hấp dẫn, hiện đại, thuyết phục. Đó vừa là bảo vệ nền tảng tư tưởng, vừa là xây dựng sức mạnh mềm quốc gia.
Cuối cùng, giành lại quyền chủ động không có nghĩa là quay lại thời kỳ thông tin một chiều. Quyền chủ động trong thời đại số nằm ở năng lực tạo ra niềm tin bằng sự thật, sự minh bạch và đối thoại. Pháp luật phải đủ nghiêm để ngăn hành vi gây hại; nền tảng phải đủ trách nhiệm để không khuếch đại độc hại vì lợi nhuận; báo chí phải đủ mạnh để định chuẩn sự thật; cơ quan nhà nước phải đủ cởi mở để giải thích và chịu trách nhiệm. Khi bốn yếu tố ấy gặp nhau, dòng chảy thông tin sẽ bớt bị chi phối bởi những cơn sóng cảm xúc nhất thời và trở thành một phần của năng lực tự chủ quốc gia trên không gian số.
Theo https://www.qdnd.vn/cuoc-thi-bao-chi-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-trong-tinh-hinh-moi/giu-vung-tran-dia-tu-tuong-tren-khong-gian-so-ky-2-gianh-lai-quyen-chu-dong-tren-dong-chay-thong-tin-1052947


