Nav Air Nav Air

Người Tuyên Quang1/6/2018 8:34

Nguyễn Hữu Dực và những bài thơ áo lính

ĐNTQ: Thơ Nguyễn Hữu Dực tự hiện hai mảng sống từ cuộc đời ông. Một mảng thời ông mặc áo lính, một mảng giữa cuộc sống yên bình. Thơ là tâm lòng có mạch nguồn từ thời ông mặc áo lính nên dòng chảy trong thơ không có sự ồn ào, cuồn cuộn mà nó êm ắng nhưng ngọt ngào tha thiết.

Nguyễn Hữu Dực tuổi thìn (1952). Quê gốc ở huyện Phong Châu tỉnh Phú Thọ nhưng sinh thành tại thị xã Tuyên Quang. Tham gia quân đội nhân dân Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ. Năm 1975 về học tại Học Viện Hậu Cần và được giữ lại làm giảng viên cho đến khi chuyển ngành về công ty ô tô Hà Tuyên (Tuyên Quang) rồi nghỉ hưu. Hiện tại ông sống và viết tại phường Tân Quang- thành phố Tuyên Quang.
 

Nhà thơ Ngọc Hiệp và nhà thơ Nguyễn Hữu Dực trao đổi về đề tài sáng tác thơ lục bát.
Ảnh: Quốc Việt

Nguyễn Hữu Dực làm thơ từ những năm bẩy mươi, thời trong quân ngũ ông đã có lác đác đôi bài thơ đăng trên báo quân khu Thừa Thiên Huế. Yêu thơ nhưng không  bao giờ ông dám nghĩ đến việc trở thành nhà thơ nên chỉ làm thơ cho mình rồi cất kỹ dưới đáy ba lô, trừ khi gặp bạn bè tri kỷ ông mới lôi ra đọc chơi.
Việc ông đến và trở thành hội viên hội Văn Học Nghệ Thuật Tuyên Quang cũng là sự tình cờ, giống như mối duyên tình ông giời buộc lại. Chuyện là  những ngày ông chuyển ngành về công tác tại công ty ô tô, thời ấy tuy đã đổi mới nhưng phương tiện giao thông đi lại cũng chưa dễ dàng như bây giờ. Đận ấy Hội lại chưa có xe ô tô. Nhà thơ Mai Liễu và nhà văn Đinh Công Diệp có chuyến đi công tác đột xuất trên Hà Giang. Tôi cùng ra bến mua vé nhưng không được. Loanh quanh ở bến thì nghe Dực gọi. Thế là gặp may. Tôi gửi hai Ông nhà văn theo xe và bảo Dực là bạn tôi. Chuyến đi ấy về nhà thơ Mai Liễu phấn khởi bảo: - Ông có tay bạn thật tình quá. Mình với ông Diệp vừa không mất tiền vé lại được chiêu đãi ngồi gần buồng lái, tất nhiên cả ăn uống dọc đường, mà tay này yêu văn nghệ lắm. Thi thoảng lại cao hứng đọc thơ rất vui. Tôi chỉ gật đầu biết vậy.
Sau chuyến đi ấy đôi khi nguyễn Hữu Dực có tìm đến chỗ tôi chơi nhưng chỉ ở góc độ như một người em vì tôi bạn với Chương anh trai của Dực. Gặp nhau lại cùng có cái máu "Nghiệp chướng" rất dễ dốc bầu tâm sự. Thế là tôi biết Dực có thơ. Vậy là đồng cảm, chúng tôi đọc thơ cho nhau nghe, thấy nhiều bài được tôi động viên Nguyễn Hữu Dực chép gửi cho báo. E dè mãi, cuối cùng cũng thấy thơ ông được đăng tải trên báo Tân Trào. Một bài, hai bài rồi nhiều bài, ông trở thành cộng tác viên tích cực của báo và đến năm 1997 ông được kết nạp vào hội.
Trở thành hội viên, ông hoạt động sôi nổi hơn, bên cạnh việc sáng tác ông còn tích cực tham gia các hoặt động của hôị như dự trại sáng tác, đi thực tế và dường như các buổi sinh hoạt thơ -nhạc của hội tổ chức ông đều có mặt. Làm nghề lái xe, ngày ngày ông vững vô lăng dong duổi trên đường nhưng vẫn dành thời gian cho thơ. Ông viết đều đặn, có bài viết ngay trên đường đi, về đêm chép lại rồi cất kỹ vào ba lô, thi thoảng có thời gian ông mới lựa chọn đôi bài gửi cho báo. Túi thơ của ông cứ mỗi ngày một đầy lên, ông trân trọng giữ gìn nó như một vật báu trong nhà. Có thời gian ông lại mở ra đọc, đọc từng bài, nắn nót lại từng câu chữ, xếp thành tập. Khi thấy chúng đủ đầy lông cánh ông mới quyết định thả nó ra trời.
Có sự nâng đỡ của nhà xuất bản Hội Nhà Văn, năm 2009 tập thơ Về Miền Lau Trắng của ông được xuất bản, tiếp đó năm 2012 Tập Sông Lô Gọi Về cũng được ra mắt bạn đọc. Trong khoảng ba năm ông cho trình làng hai tập thơ, số lượng  xuất bản không phải là nhiều nhưng nó dằng dặc một chặng đường thơ của cả đời ông. Nếu đọc kỹ hai tập thơ của ông thì mới thấy từ: Về Miền Lau Trắng  đến Sông Lô Gọi Về chính là mối dây kéo buộc lại hai mảng đời của ông. Một mảng xanh màu áo lính giữa khói lủa chiến trường và một mảng ngẩn ngơ giữa đời sống yên bình nhưng đầy những lo toan chật vật.
Ở mảng thơ khi ông còn mặc áo lính là những cảm xúc tươi sáng về quê hương và tình đồng đội trong đạn bom ác liệt. Thời ấy thơ và người đều hừng hực khí thế ra trận với một tấm lòng tự nguyện hy sinh cho Tổ Quốc:" Vui gì hơn bằng người lính đi đầu, Trong đêm tối tim ta làm ngọn lửa."... Hoặc Vượt núi băng sông chân tôi bước qua bao đồng cỏ nội, Vòng ngụy trang trên lưng tôi đã bao lần thay lá mới, Tôi mang trong lòng tiếng gọi của quê hương...
Cũng bộc bạch nỗi niềm này nhưng ở Nguyễn Hữu Dực lại thầm kín, viết về quê hương ông không gào lên bằng những cảm xúc bộc phát, mà lặng thầm, dịu êm bằng những khắc khoải, hoài niêm:
                             Tôi trở về
                             Bến sông xưa
                             Soi mặt nước
                             Thấy mình ngày thơ trẻ
                             Hòn sỏi lăn từ nguồn ra bể
                             Qua bao truân chuyên đủ tròn trịa dáng hình
Hình tượng hòn sỏi thành dáng, thành hình chính cũng là quá trình dài gian khổ để ông nhận biết rõ mình hơn và tự hào với quê hương nơi ông sinh thành và khôn lớn:
                             Lô Giang một thời tôi sinh
                              Lô Giang một thời tôi hát
                             Dấu chân cha ông in thành nhà Mạc
                              Chiến sĩ sông Lô âm hưởng mãi còn vang
Quê hương với ông là niềm tự hào, là những kỷ niệm đẹp mãi không nguôi nhưng không hẳn chỉ nguyên thế mà cái bao trùm, luôn làm ông thổn thức đó là hình ảnh Mẹ- Người mẹ đẻ ra ông:
                              Mẹ của tôi lam lũ tảo tần
                              Ngày tiễn con đi  rưng rưng dòng lệ
                              Cho con bàn chân đạp bằng sóng bể
                              Chiến thắng con về tạ ơn mẹ sinh con
Tạ ơn mẹ, cũng để ông tự vỡ ra và hiểu thấu đáo hơn bao nhọc nhằn đời mẹ phải gánh vác:
                              Tôi hiểu trong muôn nỗi nhọc nhằn
                              Quê hương đâu chỉ cánh diều thơ bé
                              Lũ lụt bão giông đạn bom cày xé
                                Đùm bọc tin yêu nuôi con lớn nên người
Như vậy hình ảnh người mẹ sinh đẻ ra ông lúc này tự trở thành hình tượng quê hương yêu dấu hóa thành Hoa Hồn ông thơ mộng, bát ngát:
                             Quê hương- quê hương hoa hồn tôi
                             Nghĩa nặng ngày tôi đi
                              Ân tình ngày trở lại
                             Quê hương như tấm lòng người mẹ
                              Suốt đời ta nhớ ta yêu!...
                                                ( Hoài Niệm)
Mang trong lòng ân tình quê hương sâu nặng, trong chiến tranh gian khổ Nguyễn Hữu Dực không có những bài thơ hừng hực khí thế như: " Đi ta đi sức trai làng Phù Đổng, hoặc Đêm Quảng Trị dắt ta vào trận đánh, Thủ pháo rung rung đầu kíp nụ xòe..." Nguyễn Hữu Dực âm thần nhưng chan chứa tình yêu thương đồng đội, có lẽ ông đã khóc nhiều mỗi khi một đồng độị ngã xuống.
                             Đồng đội ơi
                             Tôi gọi các anh
                             Chiều im lặng tưởng chừng không sợi gió
                             Tôi miên man trước từng vuông cỏ
                              Thầm gọi tên trò chuyên với từng người!...
                             ....
                         Và: Giọt nước mắt lặn vào trong suy nghĩ
                              Biết chiến tranh có những điều không thể
                              Đồng đội ơi thương nhớ các anh nhiều!
                                                          " Đồng Đội "
Chiến tranh, mọi sự xẩy ra là điều không lường được, hy sinh là tất yếu, khóc đồng đội nhưng ông luôn tin sự hy sinh của đồng đội sẽ mang về hoa trái cho quê hương đất nước mai này:
                              Phút lặng yên lắng đọng mỗi mặt người
                              Hồn đất đai nhắn dùm người ở lại
                              Máu thắm đất cho đời hoa trái
                              Vết thương lòng sẽ dịu những niềm đau
                                                " Viết ở Nghĩa Trang Đồng Lộc"
Miền cảm xúc về quê hương, về đồng đội, về những khốc liệt của chiến tranh ông từng sống và chứng kiến cứ như khe nước dưới đại ngàn chảy qua tâm hồn vốn âm thầm lặng lẽ suốt một thời mặc áo lính của ông mà thành vần điệu câu chữ, dẫu đơn sơ, mộc mạc nhưng nó mãi là những tấm ảnh tươi sống để mỗi khi ta giở lại vẫn thấy những trạm giao liên đầy gió giữa rừng trường sơn, những đoạn ngầm ngày đêm bom giặc đổ xuống mà vóc dáng cô gái chỉ đường vẫn hiên ngang, phơi phới bàn tay vẫy cứ ánh lên thành nỗi nhớ suốt đời:
                              Đất chiến trường đâu dễ gặp người thân
                              Một đoạn đường khó làm ai nhớ mãi
                              Đoạn ngầm kia và người con gái
                              Đã trở thành nỗi nhớ suốt đời tôi.
                                                "Cô Gái Và Đoạn Ngầm"
Những trang thơ thời áo lính bài tiếp bài cứ nối hàng hiện sáng dần một tâm hồn Nguyễn Hữu Dực êm đềm, kín đáo mà sâu nặng nghĩa tình với đồng đội, với quê hương đất nước trong những ngày chiến tranh khói lửa. Do vậy sau chiến tranh, là người lính sống sót trở về, cuộc sống đời thường trong những ngày quê hương đất nước yên bình lại là những vật lộn, lo toan cho manh áo bát cơm. Cũng chẳng kém phần ác liệt. Không thể trốn ra ngoài vòng quay ấy nhưng với tấm lòng thơ bền bỉ, êm đềm đã được hình thành, tôi luyện qua chiến tranh gian khổ, ông không hề tính toán thiệt hơn, Không hậm hực trước người thua, kẻ được. Ông thanh thản lẫn vào đồng loại bằng nghị lực và tấm lòng của một con người đã từng chứng kiến và từng trải những đau khổ của con người qua chiến tranh ác liệt để chan hòa, cảm thông đùm bọc lấy nhau. Tâm hồn ông không nguôi khắc khoải về một quá khứ oanh liệt, đẹp đẽ nên giữa yên bình thơ ông vẫn lặn lội tìm về đồng đội.
                               Hùng ngã xuống một chiều bên Thành Cổ
                               Nét tươi xanh ánh mắt học trò
                               Hơn ba mươi năm phút ấy còn in rõ
                               Ngày tôi về thăm chiến trường xưa!
                                ....
                         Và: Đón bạn về quê thức với sao trời
                               Bia liệt sĩ những bông hoa hồng trắng
                               Ôi! Thành Cổ một thời lửa đạn
                               Mắt ai cười trong câu hát năm xưa!
                                                (Về Một Bài Ca )
Mắt ai cười mà rưng lệ trong lòng, đấy chính là tấm lòng ông! Đau đáu với quá khứ, đồng cảm với hiện tại, sẻ chia với những thiếu hụt mà người thân phải gánh chịu. Ấy là câu chuyện của người chị chờ người yêu đi bộ đội nhưng anh vĩnh viễn không về, quá lứa chị đành côi cút ở một mình:
                              Phận mình đâu nghĩ thiệt hơn
                              Chiến tranh lời hứa ai còn cho nhau
                              Thủy chung xanh mãi một màu
                               Chị ơi em hiểu nghĩa sâu tình nồng!
                                                          (Chị )
Chia sẻ với mọi người ông cũng bâng khuâng day dứt với những thiếu hụt, rối bời từ nơi sâu kín của lòng mình với những kỷ niệm sâu sắc, thiêng liêng tưởng đã bị vùi lấp trong quá khứ:
                               Cỏ may ơi dệt mối tình đầu
                               Đường chỉ mũi kim đan vào kỷ niệm
                               Ta về quê nghe cỏ mềm ru hát
                               Lại nhớ ngày gỡ cỏ rối cho nhau
                                                          ( Cỏ May Ơi)
                     Hoặc: Bến quê hương ơi lỗi hẹn một thời
                              Con sáo sang sông có bao giờ trở lại
                             Một nửa vầng trăng trong anh khuất mãi
                              Âm thầm nỗi nhớ về em!...
                                                          ( Bến Quê)
Khắc koải với quá khứ bằng cảm xúc vừa êm đềm, vừa day dứt nên thơ ông luôn chân chất khi được đặt chân đến với mỗi vùng đất của quê hương đất nước. Một chiều Tam Đảo mây giăng giăng, một thoáng Na Hang núi non trùng điệp, một tiếng đàn then vọng dưới mái sàn cũng làm ông xao xuyến nhớ nhung và thơ cứ róc rách theo mạch nguồn ấy.
                             Ước sông Gâm chỉ tầy gang
                             Bắc cầu dải yếm cho nàng sang chơi
                             Tình tang say đến mê người
                             Tôi về vương vấn những lời hát then.
                                                          ( Lời Then )
Thơ Nguyễn Hữu Dực tự hiện hai mảng sống từ cuộc đời ông. Một mảng thời ông mặc áo lính, một mảng giữa cuộc sống yên bình. Thơ là tâm lòng có mạch nguồn từ thời ông mặc áo lính nên dòng chảy trong thơ không có sự ồn ào, cuồn cuộn mà nó êm ắng nhưng ngọt ngào tha thiết. Đó cũng là tiếng vọng giữa: Về Miền Lau Trắng đến Sông Lô Gọi Về. Nó tự nói tấm lòng ông với cuộc đời, với niềm đam mê Thơ như ông thường tâm sự: "Ngoài sự đam mê, tôi làm thơ như một sự trăn trở trong tâm  hồn mình vậy. Mỗi con người ta lớn lên từ tình yêu của người mẹ, của quê hương. Gánh nặng cuộc đời ấy sao có thể trả nghĩa được. Tiếng thơ để cuộc đời tôi luôn nhớ về những ký ức thân quen ấy. Đồng thời nó cũng như một người bạn, một sân chơi trí tuệ cho cuộc sống thêm giàu ý nghĩa hơn".
 

Ảnh minh họa
                                                                                                                            Trịnh Thanh phong

Tin mới nhất:

Liên kết website
Số lượt truy cập: 472992 - Đang Online: 563